|
|
|
 |
Tiện ích trên site |
|
|
|
|
|
 |
Thành viên có mặt |
|
|
 |
Khách: |
003 |
 |
Thành viên: |
000 |
 |
Tổng cộng |
003 |
 |
Hits |
000377275 |
|
|
|
|
| |
|
 |
 |
Hôm nay: Thứ ba, 07.09.2010 - 4:09 PM GMT+7 |
Các yếu tố ảnh hưởng đến xu thế xâm nhập mặn ở tỉnh Bến Tre
20.11.2009 14:40
|
| Cống đập Ba Lai Công trình ngăn mặn trên sông Ba Lai |
Bến Tre là một trong 13 tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Vị trí địa lý, phía Đông giáp với biển Đông nên hệ thống sông ngòi, kênh rạch chịu ảnh hưởng chủ yếu của triều biển Đông. Do vậy, nguồn nước mặt trên địa bàn tỉnh thường bị xâm nhập mặn, nhất là vào mùa khô, qua 3 cửa sông: cửa Đại, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên.
Nguồn nước mặt trong tỉnh khá phong phú nhưng trên ¾ diện tích toàn tỉnh (nước trong hệ thống sông ngòi, kênh rạch và vùng trũng thấp) bị nhiễm mặn từ: 2 – 3 tháng hoặc quanh năm. Bến Tre thường thiếu nước ngọt trong mùa khô và vấn đề xâm nhập mặn hầu như ảnh hưởng đến toàn bộ diện tích của tỉnh; ngoài ra, các hoạt động phát triển kinh tế xã hội cũng góp phần làm cho tình hình xâm nhập mặn ảnh hưởng trên diện rộng và ngày càng sâu sắc hơn. Các nguyên nhân ảnh hưởng đến xu thế xâm nhập mặn ở Bến Tre: - Thứ nhất là do địa hình của tỉnh Bến Tre có dạng hình quạt nan, nhìn chung tương đối bằng phẳng, có xu thế thấp dần từ hướng Tây Bắc xuống hướng Đông Nam và nghiêng ra biển. Có 3 dạng địa hình cơ bản: Vùng địa hình thấp có độ cao dưới 01 m: bị ngập nước khi triều lên bao gồm một số đất ruộng ở lòng chảo xa sông, các bãi triều ven sông, bãi bồi ven biển và khu vực rừng ngập mặn, chiếm 6,7% diện tích toàn tỉnh. Vùng địa hình trung bình có độ cao từ 1 – 2 m: là vùng đất ngập trung bình họăc ít ngập theo triều, chỉ bị ngập khi triều cường vào tháng 9 – 12, chiếm khoảng 87,5% diện tích toàn tỉnh. Vùng có địa hình cao có cao độ từ 2 – 3,5 m, có nơi cao trên 5 m, chiếm 5,8% diện tích toàn tỉnh. Chính vì đặc điểm địa hình trên, với 94,2% diện tích tự nhiên bị ảnh hưởng của thủy triều nên việc xâm nhập mặn do thủy triều chiếm ưu thế ở tỉnh Bến Tre. - Thứ hai là do Tỉnh có nhiệt độ và số giờ nắng trung bình cao, kết hợp với lượng mưa trung bình không cao cùng với gió chướng đã tạo điều kiện cho nước mặn xâm nhập dễ hơn và sâu hơn vào trong đất liền. - Thứ ba là do Tỉnh có hệ thống sông, kênh, rạch chằng chịt. Bến Tre có 45 kênh rạch chính với tổng chiều dài 383 km và 04 nhánh sông chính của hệ thống sông Cửu Long là: sông Tiền Giang dài 90 km, lưu lượng mùa mưa: 6.480 m3/s, mùa khô 1.598 m3/s; sông Ba Lai dài 70 km, lưu lượng mùa mưa: 240 m3/s, mùa khô 59 m3/s; sông Hàm Luông dài 72 km, lưu lượng mùa mưa: 3.360 m3/s, mùa khô 829 m3/s và sông Cổ Chiên dài 87 km, lưu lượng mùa mưa: 2.280 m3/s, mùa khô 710 m3/s. - Thứ tư là do Bến Tre có chế độ triều Biển Đông là chế độ bán nhật triều không đều, mỗi ngày có hai lần nước lên và hai lần nước xuống. Hàng tháng có hai kỳ triều cường (03 và 17 âm lịch) và hai kỳ triều kém (10 và 25 âm lịch). Đỉnh triều bình quân trong năm cao nhất vào tháng 10 (130 cm), tháng 11 (132 cm), chân triều bình quân cao nhất vào tháng 1 (39 cm), thấp nhất vào tháng 6 (-154 cm), tháng 7 (-146 cm) với biên độ triều trong năm biến thiên từ 201 – 241 cm. - Thứ năm là tỉnh có một số hướng sóng nguy hiểm, như: hướng Đông Bắc, Đông, Đông Nam. Theo vận tốc gió khác nhau cho độ cao sóng ở Bến Tre không lớn lắm (từ 0,3 – 1,5) và giảm từ ngoài khơi vào bờ với chu kỳ sóng từ 3 – 6 giây. Hệ thống sông rạch với dòng chảy nhỏ, lưu lượng thấp, địa hình bằng phẳng kết hợp với hướng sóng đánh vuông góc với bờ biển nên thủy triều dễ dàng xâm nhập vào sâu trong đất liền. Trong mùa khô kiệt hàng năm (từ tháng 1 - 4), lượng nước mưa hầu như không đáng kể, nguồn nước ngọt duy nhất vào hệ thống sông ngòi của Tỉnh là nguồn nước sông Tiền (được tiếp nước từ dòng chảy thượng nguồn sông Mêkông) trùng với thời kỳ lưu lượng thượng nguồn tương đối nhỏ và nhỏ nhất vào tháng IV; nhu cầu nước cho sản xuất nông nghiệp lớn, độ dốc lòng sông nhỏ, địa hình khá bằng phẳng tạo điều kiện thuận lợi cho nước mặn theo sông rạch vào đất liền. Tác động tương hỗ giữa dòng chảy sông và động lực biển gây ảnh hưởng trực tiếp đến các khu vực ven biển, đặc biệt mực nước sông xuống thấp; dòng chảy ra biển không đủ mạnh để ngăn nước mặn chảy ngược vào cùng với triều cường có thể đẩy ngược nước mặn vào sâu trong sông và hệ thống kênh rạch tạo ra một vùng nước nhiễm mặn với các nồng độ khác nhau. - Thứ sáu là do diện tích đất nuôi trồng thủy sản tăng nhanh, gần 10 lần trong vòng 18 năm trở lại đây và có khuynh hướng chựng lại kể từ năm 2000. Nguyên nhân của sự gia tăng này, chủ yếu do việc mở rộng đất nuôi tôm biển vùng ven biển Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú. Chính việc gia tăng diện tích đất nuôi trồng thủy sản đồng nghĩa với việc một diện tích lớn rừng ngập mặn bị phá hủy. Rừng ngập mặn mất đi làm cho thủy triều, sóng biển dễ xâm nhập vào đất liền gây ra xâm nhập mặn. Bên cạnh đó, để phục vụ cho nuôi tôm, người dân đã dẫn nước mặn từ biển vào các vuông tôm làm cho độ măn trong đất và nước ở đây tăng cao. - Thứ bảy là do việc khai thác nước ngầm để sử dụng là một vấn đề tất yếu ở tỉnh Bến Tre, vì hầu hết nguồn nước mặt của tỉnh là bị nhiễm phèn, mặn. Tuy nhiên, do gia tăng dân số, phát triển kinh tế xã hội, bùng nổ các hoạt động nuôi tôm làm cho việc khai thác nước ngầm ở đây hoạt động rất mạnh mẽ. Chính vì việc khai thác nước ngầm quá mức đã làm cạn kiệt nguồn nước ngầm. Nước mặn từ biển và tầng nước mặn dễ thẩm thấu vào tầng nước ngầm gây nhiễm mặn nước ngầm. - Thứ tám là do hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng đang bước đầu được hình thành. Tuy nhiên, do vùng nuôi và phương thức nuôi chưa được xác định ổn định nên ngoại trừ một số vùng nuôi công nghiệp – bán công nghiệp đang xây dựng hệ thống cấp và tiêu nước riêng biệt với các công trình đầu mối quan trọng, các vùng còn lại chỉ mới bước đầu định hình hệ thống thủy lợi. Xâm nhập mặn là vấn đề quan trọng ở tỉnh Bến Tre. Hiện nay, dù đã xây dựng nhiều hệ thống thủy lợi để ngăn mặn nhưng độ mặn trong môi trường đất, nước vẫn ảnh hưởng đến tài nguyên, sinh vật và hoạt động sống của con người nơi đây. Trong những năm gần đây, tình trạng xâm nhập mặn cả về nồng độ lẫn chiều sâu vào nội địa ở tỉnh Bến Tre đang là vấn đề nóng và cần phải được quan tâm giải quyết cũng như có biện pháp phòng tránh để phục vụ sản xuất và nguồn nước sinh hoạt ở địa phương. Theo dự báo đến năm 2010 và hơn nữa đồng bằng sông Cửu Long phải đối đầu với việc thiếu hụt nguồn nước, hạn hán kéo dài và nhu cầu sử dụng nước của các nước thượng lưu, tình trạng này dẫn đến nguy cơ xâm nhập mặn sâu hơn gây khó khăn cho việc cấp nước ngọt phục vụ sản xuất sinh hoạt và tỉnh Bến Tre không nằm ngoài nguy cơ đó.
Mai Hanh
|
Những bản tin khác:
|
 |
 |
 |
Tin chuyên mục |
|
|
|
|
|
 |
Đăng nhập/Đăng ký |
|
|
|
|
|
|
 |
| |
|