|
|
|
 |
Tiện ích trên site |
|
|
|
|
|
 |
Thành viên có mặt |
|
|
 |
Khách: |
002 |
 |
Thành viên: |
000 |
 |
Tổng cộng |
002 |
 |
Hits |
000377280 |
|
|
|
|
| |
|
 |
 |
Hôm nay: Thứ ba, 07.09.2010 - 4:16 PM GMT+7 |
Hiện trạng rừng và đất rừng của tỉnh Bến Tre
18.11.2009 10:42
|
| Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Thạnh Phú, huyện Thạnh Phú |
Để bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, chúng ta cần áp dụng các chính sách sau: trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc; bảo vệ rừng phòng hộ, các vườn quốc gia và khu dự trữ thiên nhiên; khai thác hợp lý rừng sản xuất, hạn chế khai hoang chuyển rừng thành đất nông nghiệp, hạn chế di dân tự do và đóng cửa rừng tự nhiên.
Bến Tre có diện tích rừng không nhiều, nhưng nó có vai trò rất quan trọng trong việc phòng hộ bảo vệ môi trường, phòng chống xói lở, cố định bãi bồi, đặc biệt là giữ vững sự cân bằng sinh thái vùng cửa sông ven biển. Do đặc điểm điều kiện tự nhiên ở Bến Tre là vùng có khí hậu nhiệt đới và tiếp giáp với biển nên thuận lợi phát triển cả 3 loại rừng: rừng ngập mặn, rừng nước lợ và rừng tự nhiên. Khu vực cửa sông Tiền Giang: là nơi thuận lợi cho việc phát triển của quần xã cây nước lợ như quần xã bần chua, dừa nước, quần xã ô rô. Khu vực cửa sông Ba Lai: đây là nơi có độ mặn của đất và nước cao nhất trong tất cả các nhánh sông Cửu Long khác. Điều này đã ảnh hưởng rõ rệt đến phân bố và thành phần các loài cây ngập mặn bao gồm: quần xã bần trắng, quần xã mắm trắng, quần xã cốc vàng, xu ổi trên đất, quần xã giá, tra. Khu vực cửa sông Hàm Luông: nồng độ muối ở đây thấp hơn các nhánh sông khác. Rừng ngập mặn gồm các cây nước lợ điển hình, các quần xã thực vật chủ yếu ở vùng này là: quần xã bần chua, quần xã bần chu, ô rô gai, quần xã cóc kèn, cỏ mui. Diện tích rừng tập trung hiện nay của tỉnh là 3.750 ha, gồm một số loài cây chủ yếu như Đước: 1.768 ha, Bần: 523 ha, Mắm: 911 ha…, với tổng trữ lượng ước đạt 286.942 m3. Theo quy hoạch tổng diện tích quy hoạch lâm nghiệp là 7.833 ha, trong đó: rừng phòng hộ: 3.803 ha, rừng đặc dụng: 2.584 ha và rừng sản xuất: 1.446 ha. Mục tiêu từ năm 2008 đến năm 2020, mỗi năm trồng mới khoảng 100 ha rừng tập trung và 01 triệu cây phân tán; nâng độ che của rừng trong vùng quy hoạch lâm nghiệp từ 48% vào năm 2008 lên 49,8% vào năm 2010, 56% vào năm 2015 và 62,5% vào năm 2020. Nhận thấy, rừng có giá trị to lớn nên hệ sinh thái này luôn được các cấp lãnh đạo từ trung ương đến địa phương quan tâm bảo vệ và đầu tư phát triển. Thế nhưng trong những năm gần đây, mặc dù đã được quản lý và bảo vệ, nhưng những cánh rừng ở Bến Tre đã không ít lần bị phá hoại bởi tình trạng bị những người thiếu ý thức xâm hại đào bới bắt những loài động vật như con chặt khoai, chem chép; đốn phá, lấn chiếm đất rừng nuôi thủy sản. Nguyên nhân chủ yếu của vấn đề là lực lượng quản lý bảo vệ rừng mỏng, cán bộ lâm nghiệp cấp huyện và xã còn thiếu so với yêu cầu, biện pháp xử phạt chưa nặng, chủ yếu là kiểm tra, phát hiện rồi giáo dục người dân không được xâm hại đến tài nguyên rừng; nên gây khó khăn cho công tác quản lý bảo vệ rừng. Để phát triển lâm nghiệp và kinh tế xã hội các huyện ven biển, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đang phối hợp với các ngành có liên quan xây dựng Đề án giao đất giao rừng lâu dài cho các tổ chức và cá nhân sử dụng. Hiện nay, rừng và đất rừng đã được giao khoán (từ 1 – 5 năm) cho các tập thể, cá nhân và hộ gia đình quản lý bảo vệ (đã giao cho 833 tổ chức, cá nhân và hộ gia đình). Vì vậy trên mỗi mảnh đất đều có chủ thật sự, góp phần hạn chế nạn phá rừng.
Mai Hanh
|
Những bản tin khác:
|
 |
 |
 |
Tin chuyên mục |
|
|
|
|
|
 |
Đăng nhập/Đăng ký |
|
|
|
|
|
|
 |
| |
|