|
|
|
 |
Tiện ích trên site |
|
|
|
|
|
 |
Thành viên có mặt |
|
|
 |
Khách: |
002 |
 |
Thành viên: |
000 |
 |
Tổng cộng |
002 |
 |
Hits |
000377334 |
|
|
|
|
| |
|
 |
 |
Hôm nay: Thứ ba, 07.09.2010 - 5:35 PM GMT+7 |
Tác động của Biến đổi khí hậu đến tỉnh Bến Tre
08.10.2009 10:21
|
| Bãi biển xã Thừa Đức, huyện Bình Đại |
Theo dự báo của các chuyên gia về môi trường, trong tương lai, do ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu, nhiệt độ sẽ tiếp tục tăng trong thế kỷ XXI. Các hiện tượng cực đoan có xu hướng xảy ra nhiều và mạnh hơn. Đặc biệt, xâm nhập mặn và hạn hán là vấn đề thời sự của tỉnh Bến Tre.
Bến Tre là một trong những tỉnh chịu ảnh hưởng nhiều của biến đổi khí hậu, tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Với vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội khá đặc thù, Bến Tre có 5 lĩnh vực: nông, lâm, ngư nghiệp; tài nguyên nước; tài nguyên đất; công nghiệp và giao thông vận tải; sức khỏe cộng đồng và khu vực ven biển chịu ảnh hưởng của biến đổi của khí hậu nặng nề nhất. Các hiện tượng thời tiết cực đoan như: xâm nhập mặn, hạn hán, hiện tượng triều cường, nước dâng, bão, giông lốc có xu hướng xảy ra thường xuyên và ngày càng mạnh hơn, như đợt xâm nhập mặn vào năm 2005, cơn bão Durian đổ bộ vào Bến Tre cuối năm 2006, là một minh chứng. Theo dự báo của các chuyên gia về môi trường, trong tương lai, do ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu, nhiệt độ sẽ tiếp tục tăng trong thế kỷ XXI. Các hiện tượng cực đoan có xu hướng xảy ra nhiều và mạnh hơn. Đặc biệt, xâm nhập mặn và hạn hán là vấn đề thời sự của tỉnh. Hiện tượng triều cường, nước biển dâng gây sạt lở bờ biển, bờ sông, ảnh hưởng của bão, áp thấp nhiệt đới, giông lốc sẽ nhiều hơn. Đất vốn đã bị thoái hoá do quá lạm dụng phân vô cơ, hiện tượng khô hạn, rửa trôi do mưa tăng sẽ dẫn tới tình trạng thoái hoá đất trầm trọng hơn ở một số địa phương. Tài nguyên nước trong tỉnh biến động mạnh hơn có thể ảnh hưởng đến việc trữ nước và cấp nước. Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến sinh trưởng và sinh sản của cây trồng do kích thích sự lan rộng của các sâu hại và dịch bệnh. Lượng mưa hàng năm biến động thất thường, tập trung nhiều vào mùa mưa. Trong mùa khô, lượng mưa tăng, giảm không rõ rệt, có xu hướng giảm nhiều hơn. Cường độ mưa, với những đợt mưa lớn sẽ nhiều hơn, dẫn đến ngập lụt tăng, nhất là khu vực ven biển, khu đô thị. Các đợt không mưa kết hợp nắng nóng cũng xảy ra nhiều hơn. Các đợt hạn trong mùa khô, thậm chí ngay cả trong mùa mưa, có thể sẽ xuất hiện nhiều hơn. Tất cả những tác động do biến đổi khí hậu nêu trên sẽ ảnh hưởng nặng nề đến nơi cư trú và sức khỏe con người, đến phát triển kinh tế xã hội, uy hiếp sự phát triển bền vững. Thời gian qua, tỉnh Bến Tre đã có những hoạt động thích ứng và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu: Trong thủy sản, đã chú ý áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, các quy trình công nghệ trong nuôi và chế biến thuỷ sản, như những mô hình, dự án nhằm thích ứng với xu thế nhiễm mặn trầm trọng đã, đang và sẽ xảy ra trong tương lai không xa. Trong nông nghiệp, đã chuyển dịch cây trồng theo hướng: giảm cây lương thực và cây công nghiệp một cách hợp lý, tăng nhóm cây ăn trái. Chuyển dịch cơ cấu chủng loại cây trồng vào hướng sản xuất loại cây ăn trái chất lượng cao (chuyên canh hoặc xen canh hợp lý), có thị trường tiêu thụ và phù hợp với đặc điểm của từng vùng sinh thái. Chú trọng phát triển và bảo tồn các loại cây đặc sản của tỉnh. Trong chăn nuôi cũng chuyển dịch theo hướng sản xuất đạt năng suất và chất lượng cao, tập trung phát triển theo hướng trang trại và hộ gia đình. Tổng đàn, sản lượng và chất lượng thịt đàn gia súc và gia cầm của tỉnh tăng qua các năm: trâu: 1.706 con, bò: 162.657 con, heo: 325.834 con, dê: 51.441, gà: 1.658.412 con và vịt: 958.325 con (năm 2006). Đẩy mạnh cơ chế phát triển sạch, phát triển bể biogas trong cộng đồng dân cư, bảo vệ gen cây trồng, vật nuôi quý hiếm của điạ phương đã được đặt ra. Chú trọng xử lý ô nhiễm môi trường triệt để. Vấn đề bảo vệ môi trường cần được đặt ra ngay từ khi có định hướng phát triển kinh tế - xã hội. Đã chú trọng xây dựng, quy hoạch thuỷ lợi, bao gồm 9 hệ thống với các công trình: cống (65 cống), đê bao khu vực (126 km), đê sông (155 km), đê biển (47 km), kênh trục chính (94 km), kênh nội đồng (631 km). Hệ thống thuỷ lợi trên đã góp phần quan trọng giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra. Vấn đề trồng và bảo vệ rừng, dần dần được chú trọng. Cơ chế giao khoán cho dân chăm sóc và quản lý bảo vệ rừng đã góp phần hạn chế nạn chặt phá rừng, lấn chiếm đất rừng làm vuông nuôi tôm. Toàn tỉnh có 3.684 ha đất có rừng, (trong đó, rừng tự nhiên: 1.068 ha, rừng trồng: 2.616 ha), chủ yếu là rừng ngập mặn trong tổng diện tích đất qui hoạch cho lâm nghiệp là 14.032 ha, phân bố dọc theo chiều dài bờ biển. Phần lớn lâm phần được qui hoạch với hai loại rừng là rừng phòng chống xói lở bảo vệ bờ biển, cố định bãi bồi (huyện Ba Tri, Bình Đại) và rừng đặc dụng – Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Thạnh Phú (huyện Thạnh Phú). Vấn đề quy hoạch đất đai, chuyển mục đích sử dụng đất hợp lý, vừa đáp ứng hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, vừa thích ứng với điều kiện khí hậu từng vùng trên địa bàn tỉnh. Việc Chính phủ ra Nghị quyết phê duyệt "Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006-2010) tỉnh Bến Tre" là một thuận lợi lớn cho địa phương thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mình. Các cấp, các ngành khuyến khích các dự án, đề tài nghiên cứu khoa học, những mô hình kinh tế tập trung tìm các giải pháp giảm thiểu và thích ứng với sự biến đổi khí hậu. Thới gian tới, để tỉnh Bến Tre tăng cường nỗ lực giảm thiểu và thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh cần được các bộ, ngành trung ương quan tâm hỗ trợ kinh phí và chuyên môn để thực hiện các nhiệm vụ sau: Nghiên cứu và hỗ trợ tỉnh xây dựng các công trình thủy lợi thoát lũ, ngăn mặn, đê biển, đê vùng cửa sông, các công trình phòng chống sạt lở ven sông, ven biển. Xây dựng hệ thống phòng tránh, trú bão, sóng và nước dâng. Hỗ trợ triển khai các dự án trồng rừng, thủy lợi phục vụ nông nghiệp, các chương trình điều tra cơ bản về tài nguyên môi trường. Giảm thiểu khả năng tổn thương của rừng hiện nay, để giúp nâng cao khả năng phục hồi trước những tác động của biến đổi khí hậu. Đầu tư hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi ngọt hóa cống đập Ba Lai - Cầu sập, nâng cấp các công trình kênh mương điều tiết và hệ thống thoát nước đô thị trên toàn tỉnh. Xây dựng qui hoạch và quản lý nguồn nước ngầm và nước mặt; tổ chức nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về cung cấp nước sạch, mở rộng qui mô của các nhà máy nước trên địa bàn tỉnh (đặc biệt là nhà máy nước Tân Mỹ, huyện Ba Tri), để tăng tỉ lệ người dân được sử dụng nước sạch trên địa bàn tỉnh, nhất là 03 huyện Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú. Bảo tồn và giữ gìn các giống cây trồng, vật nuôi bản địa, ứng dụng khoa học công nghệ trong lai, ghép tạo giống mới. Tổ chức và nâng cấp ngân hàng giống và phát triển giống mới cho năng suất cao và thích ứng với điều kiện thiếu nước, khô hạn, xâm nhập mặn tại Bến Tre. Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi thích ứng với biến đổi khí hậu. Ứng dụng khoa học công nghệ tưới tiết kiệm nước, kỹ thuật canh tác nông nghiệp tăng sản và giảm nhẹ phát thải khí mêtan. Đầu tư tư phương tiện, trang thiết bị và cơ sở vật chất phục vụ nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát ô nhiễm môi trường, quan trắc môi trường, nhất là xây dựng các trạm quan trắc chất lượng nước cửa sông ven biển. Xây dựng các mô hình giảm thiểu và thích ứng với sự biến đổi của khí hậu. Hỗ trợ công tác truyền thông, giáo dục môi trường, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.
Mai Hanh
|
Những bản tin khác:
|
 |
 |
 |
Tin chuyên mục |
|
|
|
|
|
 |
Đăng nhập/Đăng ký |
|
|
|
|
|
|
 |
| |
|