Báo cáo ADB viết gì về ảnh hưởng thay đổi khí hậu đối với Việt Nam?
02.06.2009 08:35
Một tương lai nghèo hơn, nếu như... TTCT - Cuối tháng 4, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đưa ra báo cáo kết quả nghiên cứu tác động của sự biến đổi khí hậu lên các nước khu vực Đông Nam Á. Theo đó, Việt Nam là một trong bốn nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất cùng Indonesia, Philippines, Thái Lan. TTCT trích dịch giới thiệu phần liên quan tới VN trong báo cáo.
Tác động về mặt kinh tế của sự biến đổi khí hậu lên bốn nước lớn nhất Đông Nam Á là Indonesia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam sẽ cao gấp 2,5 lần mức trung bình của toàn cầu vào năm 2100 nếu như khí thải carbon vẫn tiếp tục giữ ở mức như hiện nay. Hiện ADB dự báo mỗi năm bốn nước này bị thiệt hại 230 tỉ USD do ô nhiễm môi trường, tương đương 6,7% tổng sản lượng kinh tế, trong khi toàn cầu chỉ vào khoảng 2,6%. Cả bốn nước bị tác động nhiều nhất do có đường biển dài, nền nông nghiệp chiếm tỉ trọng khá lớn trong nền kinh tế và tốc độ phá rừng rất nhanh. Việt Nam - một trong những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất Bản báo cáo của ADB đã khẳng định như thế. Tác động của biến đổi khí hậu tại Việt Nam cụ thể là nhiệt độ đã tăng 0,70C từ năm 1951-2000 và sẽ tăng nhanh hơn trong những thập kỷ tới. Mùa hè những năm gần đây nóng hơn với nhiệt độ trung bình tăng 0,1-0,30C mỗi thập kỷ, và dự báo đến năm 2100 nhiệt độ sẽ tăng thêm 2-40C. Lượng mưa ở Việt Nam trong tương lai sẽ tăng 5-10% vào cuối thế kỷ này, nhưng miền Nam sẽ ngày càng khô hạn. Những hiện tượng thời tiết bất thường xảy ra thường xuyên hơn như bão, hạn hán và lụt lội cũng như những đợt không khí nóng, chủ yếu tại các tình miền Trung. Ở miền Bắc gió nóng xảy ra vào mùa hè thì nay chuyển sang mùa giao thời giữa xuân và hè. Tháng đỉnh điểm của những cơn bão chuyển từ tháng 8 sang tháng 11 và đa số các cơn bão thường xảy ra vào khoảng cuối năm và di chuyển xuống vĩ độ thấp hơn. So với giai đoạn 1960-1990, dòng chảy vào tháng cao điểm của sông Mekong dự báo tăng 35-41% ở đầu nguồn và từ 16-19% ở vùng đồng bằng. Còn vào các tháng mùa khô, dòng chảy giảm 17-24% ở thượng nguồn và từ 26-29% ở vùng đồng bằng. Như vậy vào mùa mưa lụt lội sẽ tăng lên còn mùa khô hạn hán sẽ nghiêm trọng hơn. Do biến đổi khí hậu, nguồn nước sạch sẽ trở nên khan hiếm. Cuối thế kỷ 21, mực nước sông Hồng giảm 13-19%, sông Mekong giảm 16-24%. Mực nước biển cũng dâng cao trung bình 2-3mm mỗi năm, tại Vũng Tàu nước biển sẽ dâng thêm 0,24m vào năm 2050. Hiện tượng mặn hóa diện tích nông nghiệp ngày càng nghiêm trọng. Mực nước biển tăng ảnh hưởng đến những cánh rừng đước là bức tường giữ đất cũng như là lá phổi thiên nhiên của con người. Tại Việt Nam, gió mùa, bão và mực nước biển dâng cao làm tăng nhanh tốc độ xói mòn bờ biển, phá hủy nhiều cánh rừng đước, đặc biệt dọc bờ biển phía tây nam thuộc tỉnh Cà Mau. Xói mòn cũng phá hủy “mái nhà” của hàng ngàn sinh vật rừng và nương theo thủy triều cũng như là nơi đẻ trứng của rất nhiều loài cá, tôm. Và chắc chắn hiện tượng này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến công nghiệp nuôi trồng và khai thác thủy hải sản. Việt Nam được xem là thước đo tác động của mực nước biển dâng lên, đứng ở tốp năm nước bị tác động lớn nhất trong số 84 nước đang phát triển có bờ biển. Theo ước tính, nước biển dâng cao thêm 1m thì có 5.000km2 ở đồng bằng sông Hồng và 15.000-20.000km2 ở đồng bằng sông Cửu Long bị ngập. Có khoảng 6.276km2 vườn cây ăn trái và rừng đước bị thiệt hại. Việt Nam đã “góp phần” như thế nào vào quá trình biến đổi khí hậu? Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Philippines là những nước thải khí thải CO2 cao nhất khu vực, và trong nhiều năm qua Đông Nam Á đã chiếm 15% khí thải trên toàn thế giới. Riêng Việt Nam là quốc gia có nhu cầu sử dụng năng lượng tăng nhanh nhất khu vực: khoảng 13% mỗi năm tính từ năm 2000-2020. Dự đoán mức tiêu thụ than đá và dầu lửa sẽ tăng nhanh chóng vào năm 2050 vì Việt Nam có trữ lượng than đá và dầu khá lớn. Báo cáo cũng nói dù Việt Nam là quốc gia có tiềm năng thủy điện lớn nhất trong bốn nước nhưng thủy điện vẫn chiếm một lượng không đáng kể trong tổng lượng cung cấp điện năng của Việt Nam. Kết quả của việc tăng nhu cầu sử dụng nhiên liệu hóa thạch để phát điện dẫn đến việc tăng khí thải CO2: từ 48 triệu tấn CO2 trong năm 2008 tăng lên 172 triệu tấn CO2 năm 2020 và đến 300 triệu tấn CO2 năm 2050. Do đó nguồn nước bị nhiễm CO2 với hàm lượng cao là điều chắc chắn xảy ra. Để tăng diện tích trồng cà phê, cao su... Việt Nam đã phá bỏ một diện tích rừng đáng kể, bên cạnh việc đất đai được dùng vào công nghiệp hóa và đô thị hóa làm tăng đáng kể khí thải CO2 từ chất thải sinh học và công nghiệp. Hãy hành động trước khi quá muộn Nghiên cứu khẳng định nếu như Đông Nam Á không hành động tích cực thì khí thải liên quan đến năng lượng sẽ tăng nhanh chóng. Các nhà nghiên cứu cho biết bốn nước Việt Nam, Philippines, Thái Lan, Indonesia có nhiều tiềm năng để giảm khí thải CO2. Rất nhiều biện pháp hiệu quả là sự lựa chọn đôi bên cùng có lợi có thể sử dụng để giảm 40% khí thải CO2 ở bốn nước này vào năm 2020, đồng thời có thể tiết kiệm được chi phí như cải tiến cách sử dụng năng lượng trên cả hai mặt cung và cầu. 40% nữa có thể được cắt giảm nhờ việc sử dụng năng lượng tái sinh như thủy điện, mặt trời, sức gió thay cho than hoặc dầu lửa mà chi phí cho nó chỉ chiếm khoảng 1% GDP vào năm 2020. Ngoài ra Việt Nam cần áp dụng các công nghệ mới như thu khí CO2 và lưu giữ (carbon capture and storage - CCS). Theo tính toán của ADB, với việc áp dụng CCS Việt Nam có thể đóng góp đến 74% tổng lượng khí thải được cắt giảm vào năm 2050. Việt Nam cùng các nước Đông Nam Á hãy hành động trước khi quá muộn. Đó là lời kêu gọi khẩn thiết của nhóm nghiên cứu của ADB. Một tương lai nghèo đói hơn đang đến nếu như các nước không hành động ngay lập tức. Những dự báo quan trọng trong vài thập niên tới Sản lượng nông nghiệp Việt Nam giảm 50% vào năm 2100. Nhưng nếu áp dụng các biện pháp cắt giảm khí thải thì sản lượng nông nghiệp có thể tăng 160%. Do thời tiết thất thường, tỉ lệ tử vong do bệnh tim mạch và hô hấp tăng nhanh: 2,9% và 12,4% vào năm 2050, 9,2% và 20,45% vào năm 2100. Nếu ổn định được khí thải CO2, số tử vong do hai bệnh này sẽ giảm. Tỉ lệ tử vong do dịch tả và sốt xuất huyết cũng tăng, ước tính 18% ở cả bốn nước vào năm 2020. Thiệt hại về kinh tế do biến đổi khí hậu ở bốn nước sẽ cao hơn mức bình quân của toàn thế giới: GDP sẽ bị thiệt hại 6,7% vào năm 2100, trong khi cả thế giới chỉ bị mất 0,6%.
Lê Uyên(Theo Báo Tuổi trẻ )
|